Học làm thơ

NVN News: Thơ là một loại hình nghệ thuật của ngôn từ, âm thanh của thơ có vần có điệu nhịp nhàng. Lời lẽ của thơ ngắn gọn, hàm chứa, súc tích. Một bài thơ hay có thể làm người đọc rung cảm bởi tiết tấu, bởi nội dung, bởi hình thức thể hiện. Muốn làm thơ hay, các bạn phải có ý tưởng mới lạ, hoặc cái nhìn mới lạ về những sự vật, sự việc quen thuộc. Ngoài ra bạn phải có bố cục hay, tìm từ đắt giá. Một bài thơ lý tưởng, là bài thơ làm cho người đọc có cảm xúc sâu sắc và ấn tượng khó phai với bài thơ đó.

Học làm thơ

TẠI SAO TA CẦN ĐỌC THƠ VÀ LÀM THƠ?

THƠ là một loại hình nghệ thuật của ngôn từ, âm thanh của thơ có vần có điệu nhịp nhàng. Lời lẽ của thơ ngắn gọn, hàm chứa, súc tích. Một bài thơ hay có thể làm người đọc rung cảm bởi tiết tấu, bởi nội dung, bởi hình thức thể hiện.

Giá trị nghệ thuật của Thơ làm người đọc vui thích vì cái hay, cái đẹp của ngôn từ. Đọc thơ hay, người đọc có xúc cảm nghệ thuật, cảm nhận được Cái Đẹp Tinh Thần, tạo thói quen nhận thức những giá trị tinh thần trong cuộc sống, dần loại bỏ khuynh hướng thực dụng, tôn vinh những giá trị vật chất đơn thuần, khiến con người sa đoạ trong vật chất. Có thể làm thơ hay, người sáng tác thơ dần làm phong phú tâm hồn mình bởi những quan sát, thấu hiểu để có thể phô diễn một cách biểu cảm, sâu sắc và tinh tế những tình huống, cảm xúc trước cuộc đời, từ đó dần nâng tâm hồn mình thăng hoa lên, trên nấc thang tiến hoá của sự sống.

Về hình thức, Thơ có nhiều thể loại, chúng ta có thể kể đến những loại thơ đã được biết đến như: Đường Luật (Thất Ngôn Bát Cú), Lục Bát, Song Thất Lục Bát, Thất Ngôn, Ngũ Ngôn, Tứ Tuyệt v.v….. Sau này chúng ta có thêm  Thơ Tự Do.

PHƯƠNG PHÁP LÀM CÁC LOẠI THƠ

Trước tiên chúng ta đề cập đến một loại hình khá phổ biến

 VĂN VẦN

Cần phân biệt Thơ với Văn Vần, vì văn vần chỉ đơn giản là những câu văn ngăn ngắn, được liên kết với nhau có vần, có điệu nhằm thể hiện một nội dung nào đó, mà không mang tính nghệ thuật như THƠ.

Ví dụ: Các bài văn vần dành cho trẻ em, ngắn gọn, vui vẻ, dễ nhớ

Hôm nay trời nắng chang chang

Mèo con  đi học chẳng mang thứ gì

Chỉ mang một cái bút chì

Và mang một mẩu bánh mì con con

Hoặc các bài Ca Dao như:

Bồng bồng cõng chồng đi chơi

Đi qua chỗ lội đánh rơi mất chồng

Chị em ơi cho tôi mượn cái gàu sồng

Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên

Chúng ta thường gặp các loại bài văn vần như thế và không nên nhầm lẫn với Thơ

Thơ đường luật

ĐƯỜNG LUẬT (THẤT NGÔN BÁT CÚ)

Đường Luật là một loại thơ cổ. Các thi sĩ Việt Nam ngày xưa thường hay sáng tác theo thể loại này.

Thơ Đường Luật  (Có tám câu, mỗi câu có bảy chữ) tuân theo các quy định về luật Bằng Trắc, luật Đối Ngẫu và Vần, Nói chung là Niêm Luật.

Luật Bằng Trắc

Bằng là những từ có dấu huyền và không dấu. Trắc là những từ có dấu sắc, hỏi, ngã, nặng. Ký hiệu Trắc là T, bằng là B.

Từ thứ hai của câu thứ nhất nếu là T, từ thứ bảy của câu thứ nhất là B, thì bài thơ là luật Trắc vần Bằng. Ngược lại, từ thứ hai của câu thứ nhất  là B, từ thứ bảy của câu thứ nhất là T, thì bài thơ là luật Bằng vần Trắc

Từ câu thứ hai đến câu thứ tám, tuân theo quy luật:

Nhất, tam, ngũ bất luận

Nhị, tứ, lục phân minh

Nghĩa là từ ở vị trí một, ba, năm không nhất thiết phải theo luật bằng trắc. Nhưng từ ở vị trí hai, bốn, sáu buộc phải theo luật cân đối bằng trắc (Nếu từ ở giữa (số bốn) là Trắc thì hai từ ở vị trí số hai và sáu phải là Bằng (và ngược lại).

Luật Đối Ngẫu

Trong tám câu của bài thơ thì câu thứ ba và câu thứ tư, câu thứ năm và câu thứ sáu  đối nhau cả về hình thức lẫn nội dung.

Vần

Vần gieo ở cuối các câu một, hai, bốn, sáu, tám thì buộc phải cùng âm với nhau, hoặc na ná giống nhau. Cuối các câu ba, năm, bảy thì có thanh ngược lại.

Thơ Đường có thể làm theo các loại:

1/ Luật Trắc vần Bằng

Đơn cử một bài thơ luật Trắc vần Bằng của Bà Huyện Thanh Quan

QUA ĐÈO NGANG

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

  T      T   B      B        T     T  B

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

B            T              B    B

Lom khom dưới núi, tiều vài chú

B                T                 B    T

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà

T              B               T     B

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

T             B              T      T

Thương nhà mỏi miệng cái da da

B           T                          B  B

Ngừng đây ngắm cảnh trời non nước

B              T                    B        T

Một mảnh tình riêng, ta với ta

T               B            T        B

Đối nhau về hình thức

Câu thứ ba và câu thứ tư

B B T T B B T

T T B B T T B

Câu thứ năm và câu thứ sáu

T T B B B T T

B B T T  T B B

Đối nhau về nội dung

Câu thứ ba và câu thứ tư

Lom khom đối với Lác đác, dưới núi đối với bên sông

Tiều vài chú đối với Chợ mấy nhà

Câu thứ năm và câu thứ sáu

Nhớ nước đối với Thương nhà, đau lòng đối với mỏi miệng

Con Quốc Quốc đối với Cái Gia Gia

2/ Luật Bằng vần Bằng

Ví dụ: Một bài thơ nổi tiếng của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến

THU ĐIẾU

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

B   B    T      T    T      B      B

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

       T                   B         T     B

Sóng biếc đưa làn hơi gợn tÍ

            T          B         T        T

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

    B                T          B      B

Tầng mây lơ lửng trời trong vắt

         B          T             B       T

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

      T                B              T     B

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

     T           B           T       T

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

     B            T               B      B

Đối nhau về hình thức

Câu thứ ba và câu thứ tư

T T B B B T T

T B T T T B B

Câu thứ năm và câu thứ sáu

B B B T B B T

T T B B T T B

Đối nhau về nội dung

Câu thứ ba và câu thứ tư

Sóng biếc đối với Lá vàng; đưa làn đối với trước gió

Hơi gợn tí đối với  khẽ đưa vèo

Câu thứ năm và câu thứ sáu

Từng mây đối với Ngõ trúc; lơ lửng đối với quanh co

Trời trong vắt đối với Khách vắng teo

Trong bố cục thơ Đường, hai câu đầu: Giới thiệu đề tài, bốn câu kế tiếp: triển khai nội dung, hai câu cuối: kết luận.

Thơ Đường Luật là một thể loại thơ khó làm và khó hay, bởi quy luật chặt chẽ về âm vận, ứng đối và bố cục một bài phải gói gọn trong tám câu. Thi sĩ nào dám chọn thể thơ này để làm là chấp nhận thử thách tài năng của mình, nếu thành công (sáng tác được một bài thơ hay) thì điều đó chứng tỏ được sự tài giỏi và tinh tế trong văn chương của họ.

THƠ LỤC BÁT

Thơ Lục Bát là thể thơ quy định hai câu liên tiếp một câu sáu chữ, một câu tám chữ và số câu thì không giới hạn. Thơ Lục Bát nổi tiếng bởi tác phẩm nổi tiếng thế giới “Đoạn Trường Tân Thanh” của Đại Thi Hào NGUYỄN DU. Thơ Lục Bát là một thể thơ rất dễ làm bởi luật thơ rất đơn giản và tự do. Do không quy định bắt buộc về số câu trong bài thơ, nên bố cục được “mở” cho người làm thơ. Ngoài ra, các âm bắt vần cho hai câu không bắt buộc phải khớp với nhau một cách chặt chẽ, bởi một âm na ná tương tự cũng có thể chấp nhận được.

Thơ lục bát

Nguyên tắc thơ lục bát 

Âm của chữ thứ 6 của câu số 6 vần với âm của chữ thứ 6 của câu số 8. Chữ thứ 8 của câu số 8 vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo. Chữ thứ 6 của câu thứ 8 tiếp theo vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 kế trên. Chữ thứ 8 của câu thứ 8 này vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo. v.v….

Mô hình thơ lục bát như sau:

          1   2   3   4   5   6

          1   2   3   4   5   6   7   8

          1   2   3   4   5   6

          1   2   3   4   5   6   7   8

          1   2   3   4   5   6

          1   2   3   4   5    6    7    8

Trích đoạn thơ Kim Vân Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) của Nguyễn Du để minh hoạ thơ lục bát

  ….Đầu lòng hai ả Tố Nga

     Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

     Mai cốt cách tuyết tinh thần

     Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười

     Vân xem trang trọng khác vời

     Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang………

Qua đoạn thơ trên, chúng ta thấy âm vận trong thơ lục bát không quá khắt khe. Nếu khi thuận lợi cho ý thơ, có thể sử dụng âm vần nhau một cách chặt chẽ như: Nga, là – Vân, thần, phân. Nhưng cũng có thể sử dụng những âm tương tợ để hợp với ý câu, như: mười, vời, ngài…

Thơ lục bát là thể loại thơ dễ làm, nhưng không vì thế mà nó kém giá trị sử dụng. Với tài văn chương của những thi sĩ hàng đầu, các tác giả vẫn có thể tạo nên những tác phẩm thơ tuyệt bút.

THƠ THẤT NGÔN

Thất Ngôn là thể loại Thơ mỗi câu có bẩy chữ, số lượng câu không giới hạn. cách gieo vần trong thơ Thất Ngôn cũng rất đơn giản và “thoáng” có nghĩa là vần na ná tương tự cũng có thể chấp nhận được, miễn là đọc lên nghe xuôi tai, không chỏi là được.

QUY LUẬT

Hai câu đầu tiên bắt buộc: Chữ cuối của câu thứ nhất vần với chữ cuối của câu thứ hai (thường là âm Bằng)

Câu thứ ba, âm cuối là vần Trắc. Câu thứ tư, âm cuối là vần Bằng. Sau đó cứ một câu vần Trắc lại một câu vần Bằng.

MÔ HÌNH THƠ THẤT NGÔN

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

Một bài thơ minh hoạ:

…Dải lụa nào hay áo em bay

Cho lòng ta bỗng ngất ngây say

Tình ơi, em đã bao nhiêu tuổi

Để nhớ để thương suốt tháng ngày

Ai gõ vào tim từng tiếng đập

Cho hồn ta vỡ giấc mơ hoang

Em là Thiên Sứ đem ánh sáng

Từ thuở hồng hoang cõi địa đàng…

THƠ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT

Giống như thể loại thơ Thất Ngôn, nhưng Thất Ngôn Tứ Tuyệt là thơ chỉ có bốn câu. Sự khác biệt của thể loại thơ này là bố cục bài thơ được gói gọn trong bốn câu, còn quy luật thì cũng giống như thơ Thất Ngôn.

Ví dụ một bài thơ thuộc thể loại này:

Vạn pháp phù du khéo huyễn bày

Vô thường cho đến cả cỏ cây

Trăng non đương độ rồi trăng khuyết

Trong mắt em

Ngàn năm mây bay

THƠ THẤT NGÔN & THẤT NGÔN TỨ TUYỆT

Đây là cách làm thơ phối hợp hai thể loại Thất Ngôn lại với nhau.

Ví dụ một bài thơ minh hoạ:

TRỞ LẠI

Cho tôi trở lại mái chùa xưa

Với ngói rêu phong đã mấy mùa

Với cả hồ sen hương bát ngát

Với chiều tịch mịch tiếng chuông đưa

Cho tôi trở lại mái chùa xưa

Trở lại dòng sông mát bóng dừa

Trở lại đồi thông vang tiếng gió

Có rặng hoa vàng ngủ giữa trưa

Cho tôi trở lại mái chùa xưa

Dầu đã phong trần trải nắng mưa

Dẫu lớp sóng đời ô tuổi ngọc

Dẫu bao cay đắng nếm chưa vừa

Cho tôi trở lại ngày thơ ấu

Nhặt lá bên hiên quét cổng chùa

Tôi học bài kinh quên từ độ

Xuôi dòng thế tục nếm cay chua

Cho tôi trả lại Người – nhân thế –

Trả những oan khiên, những nợ nần

Trả những lợi danh và phú quý

Trả tình yêu lại kẻ Tình Chân

Cho tôi góp lại muôn lầm lỗi

Làm gói hành trang trở lại chùa

Cho tôi kính cẩn dâng Chư Phật

Lễ vật tâm thành đắt giá mua

Cho tôi xin được yên nghỉ mãi

Dưới rặng thông ngàn vướng vít mây

Cho hồn tôi quyện hồn cỏ dại

Thênh thang cánh gió hướng trời Tây.

Hai khổ thơ đầu của bài thơ làm theo thể Thất Ngôn Tứ Tuyệt các khổ thơ còn lại làm theo thể Thất Ngôn.

Thơ song thất lục bát
Thơ song thất lục bát

THƠ SONG THẤT LỤC BÁT

Song Thất Lục Bát là loại thơ gồm hai câu bẩy chữ, một câu sáu và một câu tám chữ. Mỗi khổ thơ có bốn câu như vậy và không hạn chế số khổ thơ. Quy luật và âm vận được phối hợp như sau:

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6  7  8

Ví dụ hai khổ thơ minh hoạ:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Nào ai gây dựng cho nên nỗi này

Trống trường thành lung lay bóng nguyệt

Khói cam tuyền mờ mịt thức mây

Bốn lần tên bắn trao tay

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh….

THƠ NGŨ NGÔN

Ngũ ngôn là thể loại thơ năm chữ, không hạn chế số câu. Quy luật thơ như sau:

1   2   3   4   5

1   2   3   4   5

1   2   3   4   5

1   2   3   4   5

…………..

Chữ cuối của câu đầu là vần trắc, chữ cuối của câu tiếp theo là vần Bằng. Sau đó cứ một câu vần Trắc, một câu vần Bằng…

Ví dụ minh hoạ:

Mùa Vu Lan năm ngoái

Anh tặng đoá hoa tươi

Em cài lên áo mới

Như mang một nụ cười

Mùa Vu lan năm ấy

Hoa nở ngập đường vui

Em đi trên mộng ước

Như đi giữa giòng đời

Mùa Vu Lan năm ấy

Mắt mẹ vẫn sáng ngời

Như mặt trời rực rỡ

Cho mùa xuân em tươi….

THƠ TỨ NGÔN

Thơ Tứ Ngôn là loại thơ bốn chữ. Giống như các loại thơ khác, mỗi khổ thơ gồm 4 câu, nhưng tùy theo bố cục bài thơ, ý thơ mà số câu nhiều ít khác nhau.

Chữ cuối các câu 2, 3, 6, 7,… là âm Bằng và vần với nhau. Chữ cuối các câu 1, 4, 5, 8, 9,… là vần Trắc. Nói chung, từ câu thứ hai trở đi, cứ 2 câu âm Bằng lại kèm 2 câu âm Trắc…

Quy luật thơ bốn chữ:

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

Ví dụ minh hoạ:

Trong phòng hương tỏa

Khói thuốc nhạt nhòa

Hương khói quyện hòa

Như ta quấn quýt

Anh là khói thuốc

Em thỏi hương trầm

Đôi ta phù vân

Cùng nhau chấp cánh.

Thơ lục ngôn

THƠ LỤC NGÔN

Thơ lục ngôn là thơ sáu chữ. Quy luật thơ không khó lắm, nhưng làm theo thể loại này, thơ khó hay, trừ khi nhà thơ phải thật tài năng.

Luật thơ: Chữ cuối các câu 1 và các câu chẵn 2, 4, 6, 8… thuộc âm Bằng. câu lẻ 3, 5, 7,… thuộc âm Trắc. Chữ thứ tư của câu dưới thường vần với chữ thứ 6 của câu trên.

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

 Ví dụ minh hoạ:

Tôi yêu, tôi yêu rất nhiều

Tôi yêu, yêu biết bao nhiêu

Tôi yêu tuổi thơ trong trắng

Tôi yêu ánh nắng mùa xuân

Tôi yêu chùm hoa hoang dã

Tôi yêu câu nói …ngại ngần

Tôi yêu trời xanh màu áo

Tôi yêu tiếng sáo hư không

Tôi yêu giòng sông mây trắng

Tôi yêu một cánh diều say

Tôi yêu bàn tay thân ái

Tôi yêu một chiều mưa bay …

THƠ BÁT NGÔN

Thơ bát ngôn là thơ tám chữ. Cách gieo vần cho thơ giống thơ Tứ ngôn như sau:

Chữ cuối các câu 2, 3, 6, 7,…. âm Bằng, chữ cuối các câu 1, 4, 5, 8, 9… âm trắc .Nói chung, sau câu 2, 3, cứ cách 2 câu âm trắc lại là 2 câu âm bằng.

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

 Ví dụ minh hoạ:

…..Tình như gió bắt đầu cơn bão nổi

Tình như mây báo hiệu trận phong ba

Tình như men thiêu đốt suốt xương da

Tình nồng thắm mặn mà hoa đương độ

Gió đưa thuyền về bến sông kỳ ngộ

Đời đưa ta vào mê lộ tình yêu

Linh hồn ta nhắm mắt để bước liều

Không biết nữa Thiên Đường hay Địa Ngục

THƠ TỰ DO

Thơ tự do là thể loại thơ không quy định bắt buộc số chữ trong câu, số câu trong một bài, cũng không quy định âm luật cho bài thơ. Vì vậy, thơ tự do tùy thuộc vào sự gieo vần ngẫu hứng của tác giả.

Ngày nay, nhiều người tưởng mình làm “thơ tự do” nhưng thực ra chỉ là sự ghép nối những câu văn xuôi ngăn ngắn, bởi vì Thơ chỉ được gọi là Thơ khi đọc lên có vần có điệu, cho dù đó là thơ tự do đi nữa.

Ví dụ minh hoạ:

NẰM BÊN TRÁI

 Anh có cái đầu

 và một trái tim

Cái đầu ở giữa nhưng trái tim không chịu nằm ở giữa

Cái đầu dùng công lý xét soi

nhưng trái tim có lý lẽ riêng của nó

Nó không cần sự biết điều hợp lý

Nó tự do như gió như mây,

như cánh chim Hải Âu thênh thang trên những dải núi non hùng vĩ

Có những khi cái đầu reo vui

thì trái tim rên rỉ

Cái đầu nói đúng thì nó bảo sai, cái đầu muốn thôi

thì nó bảo rằng cứ nữa

Ôi trái tim

nó che dấu bao nhiêu điều kỳ bí

Mà cái đầu không bao giờ hiểu được đến nơi

Chàng hoa tiêu ở trên phải nghe lệnh ông chủ điên cuồng ở dưới

Bởi vì khi cái đầu bóp nát trái tim

thì có nghĩa là nó theo nhau về nơi chín suối

Khi anh nói yêu em

đó là điều nghịch lý

Nhưng biết làm sao được

vì tim anh nằm bên trái

Em ơi!

Muốn làm thơ hay, các bạn phải có ý tưởng mới lạ, hoặc cái nhìn mới lạ về những sự vật, sự việc quen thuộc. Ngoài ra bạn phải có bố cục hay, tìm từ đắt giá.

Một bài thơ lý tưởng, là bài thơ làm cho người đọc có cảm xúc sâu sắc và ấn tượng khó phai với bài thơ đó.

Chúc các bạn thành công, sáng tác được những vần thơ tuyệt diệu.

ĐNT sưu tập

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *